Hợp đồng là căn cứ quan trọng làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong nhiều giao dịch dân sự, thương mại. Tuy nhiên, không phải mọi hợp đồng được ký kết đều có giá trị pháp lý. Việc hiểu rõ điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và các trường hợp vô hiệu sẽ giúp cá nhân, tổ chức hạn chế rủi ro và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Theo Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng chỉ có giá trị ràng buộc khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định.

Giá trị pháp lý của hợp đồng
Hiệu lực pháp lý của hợp đồng được hiểu là giá trị bắt buộc thực hiện đối với các bên kể từ thời điểm hợp đồng có hiệu lực theo quy định pháp luật.
Theo Điều 117 Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng có hiệu lực khi đáp ứng các điều kiện sau:
Chủ thể tham gia có năng lực pháp luật dân sự và năng lực hành vi dân sự phù hợp.
Các bên tham gia hoàn toàn tự nguyện.
Mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.
Hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật trong trường hợp luật yêu cầu phải lập thành văn bản, công chứng hoặc chứng thực.
Khi hợp đồng có hiệu lực, các bên phải thực hiện đúng cam kết. Trường hợp vi phạm có thể phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại, phạt vi phạm hoặc các chế tài khác theo quy định.
Theo khoản 1 Điều 407 Bộ luật Dân sự năm 2015, quy định về hợp đồng vô hiệu được áp dụng theo các quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 123 đến Điều 133 của Bộ luật này. Theo đó, hợp đồng có thể bị tuyên vô hiệu trong các trường hợp sau:
Theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Dân sự thì hợp đồng sẽ bị vô hiệu nếu mục đích hoặc nội dung của hợp đồng vi phạm điều cấm của luật hoặc trái với các chuẩn mực đạo đức xã hội được cộng đồng thừa nhận. Đây là trường hợp vô hiệu tuyệt đối nhằm bảo đảm trật tự công và lợi ích chung của xã hội.
Ví dụ: Hợp đồng mua bán tài sản mà pháp luật cấm lưu thông; hợp đồng thỏa thuận thực hiện hành vi trái pháp luật hoặc trái đạo đức xã hội.
Theo quy định tại Điều 124 Bộ luật Dân sự thì hợp đồng bị coi là giả tạo khi các bên cố ý xác lập nhằm che giấu một giao dịch khác hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ đối với người thứ ba. Trong trường hợp che giấu giao dịch khác, hợp đồng giả tạo bị vô hiệu, còn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực nếu đáp ứng đầy đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.
Theo quy định tại Điều 125 Bộ luật Dân sự thì hợp đồng có thể bị tuyên vô hiệu khi được xác lập bởi người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự mà không đáp ứng điều kiện về đại diện hoặc sự đồng ý theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định như giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu hằng ngày hoặc được người đại diện hợp pháp công nhận sau đó thì hợp đồng vẫn có thể được pháp luật công nhận hiệu lực.
Theo quy định tại Điều 126 Bộ luật Dân sự, nếu việc nhầm lẫn làm cho một hoặc các bên không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng thì bên bị nhầm lẫn có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Trường hợp sự nhầm lẫn có thể khắc phục được và mục đích giao kết vẫn đạt được thì hợp đồng không bị vô hiệu.
Theo quy định tại Điều 127 Bộ luật Dân sự quy định một bên có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu nếu việc giao kết được thực hiện do bị lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép.
Theo đó, Lừa dối là hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba nhằm làm cho bên kia hiểu sai lệch về chủ thể, tính chất của đối tượng hoặc nội dung của giao dịch dân sự nên đã xác lập giao dịch đó. Còn đe dọa, cưỡng ép là hành vi buộc một bên phải giao kết hợp đồng nhằm tránh thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín hoặc tài sản của mình hoặc người thân.
Theo quy định tại Điều 128 Bộ luật Dân sự quy định, người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nhưng tại thời điểm giao kết hợp đồng không nhận thức hoặc không làm chủ được hành vi của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu nếu có căn cứ chứng minh.
Theo quy định tại Điều 129 Bộ luật Dân sự, đối với những hợp đồng mà pháp luật quy định bắt buộc phải được lập thành văn bản, công chứng, chứng thực hoặc đăng ký thì việc không tuân thủ các yêu cầu này có thể làm hợp đồng vô hiệu.
Tuy nhiên, nếu các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ theo hợp đồng thì theo yêu cầu của một hoặc các bên, Tòa án có thể công nhận hiệu lực của hợp đồng theo quy định tại Điều 129 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Theo Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015, quy định về hậu quả của hợp đồng vô hiệu như sau:
- Khi hợp đồng bị tuyên vô hiệu thì không làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao kết.
- Các bên có trách nhiệm khôi phục lại tình trạng ban đầu và hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền tương ứng với giá trị tài sản đã nhận.
- Bên ngay tình trong việc thu hoa lợi, lợi tức không phải hoàn trả lại hoa lợi, lợi tức đó.
- Bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
- Đồng thời, việc giải quyết quyền, nghĩa vụ phát sinh và xử lý hậu quả của hợp đồng vô hiệu sẽ được thực hiện trên cơ sở tính chất của từng vụ việc và quyết định của cơ quan có thẩm quyền.
Hiểu rõ điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và các trường hợp vô hiệu là yêu cầu cần thiết đối với mọi cá nhân, doanh nghiệp khi tham gia giao dịch. Trước khi ký kết bất kỳ hợp đồng nào, các bên cần kiểm tra kỹ về chủ thể, nội dung và hình thức để hạn chế tranh chấp phát sinh. Nếu gặp vướng mắc liên quan đến hiệu lực hợp đồng hoặc hợp đồng vô hiệu, nên tham khảo ý kiến luật sư để được tư vấn và bảo vệ quyền lợi hợp pháp một cách hiệu quả.
=====================================
CÔNG TY LUẬT TNHH MTV HÃNG LUẬT THÀNH DANH
Địa chỉ trụ sở: 7C Nguyễn Văn Tiết, phường Lái Thiêu, Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ chi nhánh: 38 Bùi Viện, Đồng Xoài, Đồng Nai
Địa chỉ Văn phòng giao dịch: 278 Phạm Văn Bạch, phường Tân Sơn, Thành phố Hồ Chí Minh
Hotline: 0962 442 839
Email: hangluatthanhdanh@gmail.com
Web: www.hangluatthanhdanh.vn
Giờ làm việc: Thứ 2 đến Thứ 6 - 7:30AM to 5:30PM. Thứ 7 - 7:30Am to 11:30AM
Hotline