Di chúc là căn cứ pháp lý quan trọng thể hiện ý chí của cá nhân về việc định đoạt tài sản của mình sau khi qua đời. Tuy nhiên, không phải mọi bản di chúc đều có giá trị pháp lý. Trên thực tế, nhiều tranh chấp thừa kế phát sinh do di chúc được lập không đúng quy định về chủ thể, nội dung hoặc hình thức. Vì vậy, để bảo đảm ý nguyện của người để lại di sản được thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, người lập di chúc cần đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo Bộ luật Dân sự năm 2015.
Điều kiện để di chúc có giá trị pháp lý
Điều kiện đầu tiên để một bản di chúc được công nhận hợp pháp là người lập di chúc phải có năng lực lập di chúc theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015.
Căn cứ Điều 625 Bộ luật Dân sự 2015:
“1. Người thành niên có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình.
2. Người từ đủ mười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi được lập di chúc, nếu được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.”
Theo đó, người từ đủ 18 tuổi trở lên có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình nếu tại thời điểm lập di chúc đang minh mẫn, sáng suốt và hoàn toàn làm chủ được hành vi của mình.
Đối với người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi, pháp luật vẫn cho phép lập di chúc nhưng phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
Ngoài ra, khoản 3 Điều 630 và Điều 637 Bộ luật Dân sự 2015 còn quy định, người bị hạn chế về thể chất hoặc người không biết chữ khi lập di chúc phải có người làm chứng và thực hiện công chứng hoặc chứng thực theo quy định.
Như vậy, điều kiện về chủ thể không chỉ được xác định theo độ tuổi mà còn phụ thuộc vào tình trạng nhận thức, khả năng làm chủ hành vi và hình thức lập di chúc tại thời điểm xác lập ý chí.
Một bản di chúc chỉ có giá trị pháp lý khi thể hiện đúng ý chí thực sự của người để lại di sản.
Căn cứ khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015:
“Di chúc hợp pháp phải có đủ các điều kiện sau đây:
a) Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt trong khi lập di chúc; không bị lừa dối, đe dọa, cưỡng ép;
b) Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội; hình thức di chúc không trái quy định của luật.”
Do đó, người lập di chúc phải minh mẫn, sáng suốt trong quá trình lập di chúc và không bị bất kỳ ai lừa dối, đe dọa hoặc cưỡng ép.
Trong trường hợp có căn cứ chứng minh người lập di chúc bị tác động về tinh thần hoặc bị ép buộc phải lập di chúc theo ý muốn của người khác thì di chúc đó có thể bị Tòa án tuyên vô hiệu.
Đây cũng là một trong những căn cứ phổ biến dẫn đến tranh chấp thừa kế trên thực tế, đặc biệt trong các trường hợp người để lại di sản cao tuổi, đang điều trị bệnh hoặc phụ thuộc vào người thân trong sinh hoạt hằng ngày.
Theo điểm b khoản 1 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015, nội dung di chúc phải đáp ứng các điều kiện sau:
Không vi phạm điều cấm của luật;
Không trái đạo đức xã hội.
Bên cạnh đó, Điều 631 Bộ luật Dân sự 2015 quy định một bản di chúc thông thường cần có các nội dung chủ yếu sau:
Ngày, tháng, năm lập di chúc;
Họ tên và nơi cư trú của người lập di chúc;
Họ tên người, cơ quan hoặc tổ chức được hưởng di sản;
Di sản để lại và nơi có di sản.
Ngoài các nội dung bắt buộc nêu trên, người lập di chúc có thể ghi nhận thêm những nội dung khác liên quan đến việc phân chia hoặc quản lý di sản.
Đặc biệt, pháp luật quy định di chúc không được viết tắt hoặc sử dụng ký hiệu gây khó hiểu. Trường hợp di chúc có nhiều trang thì mỗi trang phải được đánh số thứ tự và có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.
Theo Điều 627 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc được lập dưới hai hình thức: Di chúc bằng văn bản và di chúc miệng.
Theo Điều 628 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc bằng văn bản bao gồm:
Di chúc bằng văn bản không có người làm chứng;
Di chúc bằng văn bản có người làm chứng;
Di chúc bằng văn bản có công chứng;
Di chúc bằng văn bản có chứng thực.
Trong thực tiễn, di chúc được công chứng hoặc chứng thực là hình thức được khuyến nghị sử dụng do có giá trị chứng minh cao và hạn chế tối đa các tranh chấp phát sinh.
Theo Điều 629 Bộ luật Dân sự 2015, di chúc miệng chỉ được lập trong trường hợp tính mạng của người lập di chúc bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản.
Khoản 5 Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015 quy định di chúc miệng chỉ được coi là hợp pháp khi:
Có ít nhất 02 người làm chứng;
Người làm chứng ghi chép lại ngay sau khi người lập di chúc thể hiện ý chí cuối cùng;
Những người làm chứng cùng ký tên hoặc điểm chỉ;
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày lập di chúc miệng phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
Theo Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015, các chủ thể sau đây không được làm chứng cho việc lập di chúc:
Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc;
Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan đến nội dung di chúc;
Người chưa thành niên;
Người mất năng lực hành vi dân sự;
Người có khó khăn trong nhận thức và làm chủ hành vi.
Việc lựa chọn người làm chứng không đúng quy định có thể dẫn đến tranh chấp về tính hợp pháp của di chúc.
Di chúc là căn cứ pháp lý quan trọng để xác định ý chí của người để lại di sản và là cơ sở để phân chia di sản thừa kế sau khi người đó qua đời. Để được công nhận hợp pháp, di chúc phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về chủ thể, ý chí, nội dung và hình thức theo quy định tại Điều 630 Bộ luật Dân sự 2015. Do đó, để hạn chế rủi ro pháp lý quý khách hàng hãy liên hệ với chúng tôi để được hỗ trợ.
========================================
CÔNG TY LUẬT TNHH MTV HÃNG LUẬT THÀNH DANH
Địa chỉ trụ sở: 7C Nguyễn Văn Tiết, phường Lái Thiêu, Thành phố Hồ Chí Minh
Địa chỉ chi nhánh: 38 Bùi Viện, Đồng Xoài, Đồng Nai
Địa chỉ Văn phòng giao dịch: 278 Phạm Văn Bạch, phường Tân Sơn, Thành phố Hồ Chí Minh
Hotline: 0962 442 839
Email: hangluatthanhdanh@gmail.com
Web: www.hangluatthanhdanh.vn
Giờ làm việc: Thứ 2 đến Thứ 6 - 7:30AM to 5:30PM. Thứ 7 - 7:30Am to 11:30AM
Hotline